Địa điểm mở cửa hàng kinh doanh theo gợi ý về mặt phong thủy

Nếu đang tìm một địa điểm để mở cửa hàng kinh doanh, bạn nên tham khảo một số gợi ý về mặt phong thủy dưới đây.

Lưu ý đặc biệt cho nhà chỉ có duy nhất một phòng

Những bạn trẻ ra ở riêng khi chưa có điều kiện tài chính phải sử dụng những không gian ở nhỏ hẹp. Để tạo nên tiện ích khi sử dụng cũng như hợp phong thủy, cần lưu ý một số vấn đề dưới đây.

Những điều kỳ bí về bùa chú giúp Võ Tắc Thiên lên ngôi vua

Lăng mộ của bà hàng nghìn năm sau cũng vẫn là những dấu hỏi lớn đối với hậu thế, không chỉ vì nó là lăng mộ duy nhất của các hoàng đế nhà Đường chưa bị khai quật...

Chủ Nhật, ngày 08 tháng 7 năm 2012

Chọn màu sắc và bài trí nhà cửa theo ý nghĩa phong thủy

Những thắc mắc về phương hướng

Bạn đừng quá lo lắng, nếu theo quái số hướng Đông Nam là hướng “mất mát và thất bại” của bạn. Khi bạn cung cấp năng lượng hoặc kích hoạt một góc nhà để tạo sự may mắn theo một hướng tốt nào đó thì nó sẽ mang lại may mắn cho tất cả mọi thành viên trong gia đình của bạn. Dù bạn không chọn được căn phòng ở hướng Đông Nam hoặc không ngồi hướng về phía Đông Nam, bạn vẫn được hưởng lợi ích. Điều này được giải thích rằng tất cả những phương pháp, những cách sắp xếp trong Phong Thủy đều bổ sung cho nhau. Nếu bạn là người làm vườn tinh tế, bạn sẽ nhận thấy tất cả cây cối trong vườn đều đem lại may mắn, tốt lành nếu như cây khỏe mạnh và đơm hoa kết trái. Trong Phong Thủy, đặc biệt hoa cúc, tre, hoa lan và mận là những loại cây tiêu biểu mang lại ý nghĩa điềm lành, hứa hẹn điều tốt đẹp.


Ý nghĩa đặt chậu cây trong nhà

Tránh đặt cây xương rồng trong văn phòng hoặc trong nhà vì dù cây xương rồng nở hoa rất đẹp, nhưng chúng vẫn không đủ năng lượng tốt để xua tan những năng lượng xấu do gai xương rồng tỏa ra. Nếu đặt trong nhà hoặc trong văn phòng (thường trên bệ cửa sổ và gờ tường), theo Phong Thủy, cây xương rồng có nhiều gai nhọn, sắc luôn tạo ra những mảng năng lượng xấu, gây bệnh tật, bất hạnh và mất mát.

Nếu bạn là người yêu thích loài cây xương rồng có sức sống mãnh liệt này, thì tốt nhất nên đặt chậu cây ở ngoài cửa nhà hoặc cửa văn phòng. Tại đây, cây xương rồng đóng vai trò như một người bảo vệ. Những gai nhọn của nó có thể xua tan những năng lượng xấu, đầy sát khí từ bên ngoài xâm nhập vào nhà.

chon mau sac theo phong thuy 01 Chọn màu sắc và bài trí nhà cửa
Đặt chậu cây xương rồng trong vườn, chúng sẽ trở thành một người bảo vệ đắc lực cho ngôi nhà.

Chậu

Các loại cây bị kìm hãm sự phát triển để trở nên già cỗi thường không tốt về mặt Phong Thủy. Mặc dù hầu hết mọi người đều rất thích trưng bày trong nhà, văn phòng vì chúng có giá trị cao về mặt thẩm mỹ, nhưng theo Phong Thủy, những cây này đem lại ý nghĩa không tốt vì chúng tượng trưng cho sự cản trở, chậm thăng tiến trong công việc.

Nếu bạn là người rất yêu thích , hãy đặt chậu cây ở hướng Bắc của căn nhà hoặc ngoài vườn, vì nơi đó chúng ít gây thiệt hại nhất. Chú ý tránh đặt ở hướng Đông, Đông Nam (góc Thổ).

Cách nuôi cá vàng hoặc cá chép

Trong Phong Thủy, cách tốt nhất để kích hoạt vận may trong gia đình là nuôi cá vàng. Thông thường, người ta nuôi chín con, trong đó tám con màu vàng hoặc đỏ và một con màu đen. Nếu cá chết, bạn không nên lo lắng quá. Hãy mua những con khác bổ sung vào cho đủ số. Nhiều người cho rằng khi một con cá chết thì nó đã hấp thụ vận rủi của một thành viên nào đó trong nhà.

Không nên nuôi cá vàng trong phòng ngủ, nhà vệ sinh hoặc nhà bếp. Đặc biệt, cá vàng mang lại nhiều vận rủi nhất khi để trong phòng ngủ (mất mát về mặt vật chất, hao hụt tiền bạc). Tốt nhất là đặt trong phòng khách hoặc ngoài sân.

chon mau sac theo phong thuy 02 Chọn màu sắc và bài trí nhà cửa
Theo Phong Thủy, nuôi cá vàng mang lại nhiều may mắn cho gia đình bạn. Đặt bể cá trong phòng khách ở hướng tốt nhất và tổng số cá nuôi là số lẻ.

Vị trí tốt để đặt bể cá thường là hướng Đông, Đông Nam, Bắc hoặc Tây Bắc. Để xác định vị trí tốt nhất, bạn nên căn cứ vào hướng của cửa chính ngôi nhà hoặc một trong bốn hướng tốt mà quái số đã chọn cho bạn. Lưu ý rằng các thuộc tính của hành Thủy rất phức tạp. Nếu đặt hành Thủy đúng vị trí thì nó sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn, nhưng nếu đặt sai thì cũng rất nguy hiểm. Ngoài ra, bạn không nên đặt hành Thủy, đặc biệt là bể cá chép ở bên phải cửa chính (nhìn từ trong nhà) vì điều này có thể sẽ đem lại những bất lợi trong cuộc sống hôn nhân.
Nguồn: Tổng Hợp

Thế nhà đất hành Hỏa

Hành Hỏa mang tính nóng ẩm của mùa hè, tượng trưng cho buổi trưa và màu đỏ. Hình thế của hành Hỏa là hình nhọn (tam giác, góc nhọn, hình chóp…). Hành Hỏa được sinh bởi Mộc và bị Thủy khắc. Hỏa lại sinh Thổ và xung khắc với Kim.
Đối với nhà đất, nên nhớ những đặc tính này để hành Hỏa phát huy lợi điểm và hạn chế nhược điểm.
Thế nhà đất hành Hỏa
Những thế đất có dạng tam giác theo phong thủy là thế Hỏa thịnh, không phù hợp cho việc xây cất nhà ở thông thường do có nhiều góc nhọn làm nội khí tù hãm, dễ va chạm và khó sử dụng hiệu quả không gian. Những khu đất rộng mà bên trong được chia ra nhiều lô nhỏ vuông vức thì không ảnh hưởng, thậm chí trường hợp này Hỏa sinh Thổ thành “vượng địa”. Một số khu nhà có kích thước đất xéo thường xử lý sân trong làm hồ nước, trồng cây… để giảm bớt góc nhọn, tạo mảng thông thoáng tốt hơn.

nha dat hanh Hoa Nhà đất hành Hỏa
Khá nhiều công trình tôn giáo, công viên, khách sạn... được bố trí tại các điểm "mũi tàu".
Nhà đất hành Hỏa và các công trình có cấu trúc hành Hỏa (mái nhọn, vươn cao, có chóp đỉnh…) luôn phù hợp với không gian sinh hoạt mang tính dẫn dắt, nổi bật và thu hút. Ta cũng có thể thấy khá nhiều công trình tôn giáo, công viên, khách sạn… được bố trí tại các điểm “mũi tàu”, vừa có tính nhấn mạnh, vừa không làm che khuất tầm nhìn giao thông (nhờ khoảng lùi lộ giới) tại các góc nhọn, thay vì làm nhà ở sẽ bất lợi hơn.
Giải pháp cho ngôi nhà hành Hỏa
Khi khu đất hoặc ngôi nhà mang hành Hỏa thì có thể được khắc chế bớt nhờ bo tròn các góc nhọn, dùng tủ kệ, bồn hoa, để xóa góc Hỏa. Tránh trổ cửa hay sử dụng không gian sinh hoạt tại các mũi nhọn mà nên giữ sao cho không gian chính ở vị trí trung tâm, dùng các đường cong (Thủy khắc Hỏa) hoặc góc vuông để lấy lại thế cân bằng và giảm xung sát.
nha dat hanh Hoa 01 Nhà đất hành Hỏa
Có thể được khắc chế bớt góc Hỏa nhờ bo tròn các góc nhọn, dùng tủ kệ, bồn hoa...
Khi gặp thế Hỏa theo chiều cao, ví dụ như một cầu thang đi xéo lên, một dầm nghiêng trên giường nằm ngủ, cách khắc phục là hạn chế sử dụng dưới góc chéo nhọn ấy. Nếu vì tận dụng diện tích, bạn phải làm dịu góc nhọn bằng cách đóng trần phẳng hoặc vòm cong, kê vật dụng và chỗ nằm ngủ ra bên ngoài khoảng vát chéo, dùng cây xanh che chắn để giảm tầm nhìn. Không nên tận dụng gian áp mái để làm nơi ở vì sẽ nóng bức và tù túng.
Nước ta khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, hành Hỏa khá mạnh, không như các nước phương Tây và phương Bắc là hàn đới lạnh khô, nên phương Tây rất hay dùng gian áp mái làm phòng ngủ. Vì thế, gian áp mái và gầm thang trong điều kiện nhà ở Việt Nam phù hợp để làm kho và các không gian sinh hoạt không thường xuyên.
Nguồn: Tổng hợp

Những huyền thoại trong phong thủy vương triều Tống

(Thâm cung bí sử) – Trong thời Ngũ Đại loạn lạc, những cuộc chính biến cung đình, võ tướng làm phản không phải là điều gì mới mẻ.
Triệu Khuông Dận với tư cách là thống soái cấm quân của kinh thành, cũng nhờ một cuộc binh biến mà lên ngôi Hoàng đế, sáng lập ra triều Tống. Tuy nhiên, để con rồng Triệu Khuông Dận có thể “đằng vân giá vũ”, có lẽ họ Triệu phải thầm cảm ơn hai vùng đất có phong thủy cực đẹp liên quan tới sự phát tích của mình….
Nguồn gốc họ Triệu
Trong số các dòng họ Trung Quốc, họ Triệu được coi là họ lớn nhất, được xếp ở vị trí đầu tiên trong “trăm họ”.
Nguyên nhân thực chất là vì cuốn sách “Bách gia tính” (cuốn sách ghi lại các dòng họ ở Trung Quốc) là do một văn nhân ở Tiền Đường, Hàng Châu sống đầu thời kỳ nhà Tống viết ra. Nhà Tống do Triệu Khuông Dận lập ra, nên họ Triệu được coi là quốc tính.
Chính vì vậy, khi viết “Bác gia tính”, văn nhân này đã để họ Triệu lên đầu tiên. Người đời sau cứ như vậy ngộ nhận rằng, họ Triệu là họ đứng đầu trong trăm họ. Trên thực tế, đó chỉ là cách bọn văn nhân bồi bút lấy lòng ông vua họ Triệu mà thôi.
Truy nguyên theo gia phổ của Triệu Khuông Dận, người ta phát hiện ra rằng, Triệu Khuông Dận là hậu duệ của Phượng Điểu. Theo ghi chép của sử sách thì tổ tiên của Triệu Khuông Dận vốn không phải mang họ Triệu mà là họ Doanh, có cùng tổ tiên với họ Doanh của nước Tần và hình thành từ thời nhà Tây Chu.
phong thuy vuong trieu tong 300x178 Phong thủy vương triều Tống và những huyền thoại
Trác Quân
Khởi thủy của dòng họ Doanh thực chất bắt nguồn từ thời Tam Hoàng. Tổ tiên của họ là Bá Ích, là thủ lĩnh tộc Đông Di triều nhà Hạ, được vua Nghiêu ban cho họ Doanh.
Tới đời cháu thứ chín của Bá Ích là Tạo Phụ, làm chức Xa Ngự (người đánh xe) cho Chu Mục Vương.
Tạo Phụ rất giỏi săn bắn, vì thế, thường được cùng Chu Mục Vương ra bên ngoài tham gia các cuộc vui chơi săn bắn. Có một lần, Tạo Phù phát hiện ở chợ ngựa Đồng Quan có 6 con ngựa rất khỏe, lông chỉ tuyền một màu không có sợi pha tạp.
Tuy nhiên, vào thời bấy giờ, triều đình có quy định, xe của vua thì phải dùng 8 con ngựa cùng một loại, màu sắc cũng phải giống nhau.
Nhưng ở chợ Đồng Quan, Tạo Phụ chỉ thấy có 6 con ngựa, như vậy nếu có mua 6 con ngựa này về cũng không dùng được vì quy định không cho phép. Tuy nhiên, 6 con ngựa mà Tạo Phụ nhìn thấy lại quá đẹp, nếu bỏ qua thì thật đáng tiếc.
Sau khi do dự một hồi lâu, Tạo Phụ nghe có người nói rằng, đến vườn đào sâu trong lòng núi có thể tìm thấy những con ngựa cùng màu với 6 con ngựa nói trên thì quyết định mua 6 con ngựa và lập tức vào vườn đào trong núi để tìm.
Vườn đào trong núi rộng tới 300 dặm, lại toàn cây cổ thụ cao vút, việc tìm được hai con ngựa đâu phải chuyện nói là làm được ngay.
Thế nhưng Tạo Phụ hạ quyết tâm nhất định phải tìm bằng được hai con ngựa mới thôi. Những ngày sau đó, Tạo Phụ đã phải chịu rất nhiều khó khăn gian khổ cuối cùng cũng tìm được được hai con ngựa có cùng màu lông với 6 con ngựa mình đã mua.
Tạo Phụ vui mừng lắm, đem 8 con ngựa gộp thành một đội rồi dâng tặng cho Chu Mục Vương.
Chu Mục Vương được tặng ngựa rất vui vì Tạo Phụ đã sẵn sàng chịu mọi gian khổ một mình vào vườn đào trong núi sâu để tìm ngựa tặng mình. Vì thế, Chu Mục Vương đã đặt tên cho hai con ngựa mà Tạo Phụ tìm được trong rừng là “Hoa Lưu” và “Li Nhĩ”.
Cũng bắt đầu từ đây, hai từ “Hoa Lưu” và “Li Nhĩ” trở thành hai từ dùng để ca ngợi vẻ đẹp của những con ngựa tốt.
Được tặng ngựa quý, Chu Mục Vương đương nhiên càng sủng tín Tạo Phụ hơn. Truyền thuyết nói rằng, vào một ngày nọ, hai người nổi hứng thúc ngựa phi thẳng về phía tây, 8 con thiên lý mã ngay lập tức bỏ xa đội quân cận vệ theo hầu Chu Mục Vương lại phía sau, chẳng còn thấy bóng dáng đâu nữa.
Chu Mục Vương và Tạo Phụ vô cùng vui vẻ, chẳng còn để ý gì tới những người phía sau nữa, cứ thế quất ngựa chạy thẳng về phía tây. Chưa tới nửa ngày sau hai người đã đặt chân tới Tây Vực.
Đây là lần đầu tiên hai người tới một nơi cách vương quốc của mình xa như vậy. Cảnh sắc nơi đây hoàn toàn khác với quan trung, đất đai bao la, núi sông tráng lệ khiến hai người lưu luyến quên cả việc trở về.
Thêm nữa, nơi đây còn hoang sơ, chim thú quý xuất hiện khắp nơi, Chu Mục Vương và Tạo Phụ vốn là hai người ưa sắn bắn đương nhiên không thể dằn lòng được. Hai người quất ngựa đuổi theo săn bắn những loài chim thú kỳ lạ.
Chẳng bao lâu sau, trời đã tối sập, hai người đành thả cho 8 con ngựa tùy ý chạy trên vùng hoang mạc hoang vu của Tây Vực. Cứ như vậy, chẳng mấy chốc, Chu Mục Vương và Tạo Phụ đã tới Côn Luân Khâu, đó chính là Giao trì của Tây Vực.
Tại đây hai người đã gặp Tây Vương Mẫu, được Tây Vương Mẫu khoản đãi rất thịnh tình, ba người cùng uống rượu tiên và ca hát, vô cùng vui vẻ sáng khoái.
Đúng lúc Chu Mục Vương còn đang chìm đắm trong những thú vui ở chốn bồng lai thì Từ Yển Vương của Từ Quốc khởi binh làm phản. Chu Mục Vương vô cùng lo lắng, Tạo Phụ bèn đánh xe ngày vượt ngàn dặm, vội vàng trở về Cảo Kinh, kịp thời dập tắt phản loạn.
Sau khi dẹp tan quân phản loạn, Chu Mục Vương khen ngợi Tạo Phụ đã lập công lớn trong lần dẹp loạn này vì vậy đã dùng thành Triệu (tức này là vùng phía bắc của huyện Hồng Đồng, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc) làm phần thưởng cho Tạo Phụ.
Người Trung Quốc cổ đại có thói quen dùng tên nơi ở làm họ vì thế, con cháu Tạo Phụ sau này đều tự xưng mình mang họ Triệu.
Tại thành Triệu, con cháu Tạo Phụ truyền đến đời thứ 6 là Yểm Phụ. Yểm Phụ tên là Công Trọng, giống như tổ tiên của mình, Yểm Phụ là một quan đánh xe của Chu Tuyên Vương.
Nhờ giúp Chu Tuyên Vương trong công cuộc phụng hưng nhà Chu, sử sách gọi là “Tuyên Vương trung hưng”, họ Triệu của Yểm Phụ bắt đầu có địa vị và sự phát triển đầu tiên.
Tới thời Chu U Vương, vì ông vua này vô đạo, cháu đời thứ 7 của Tạo Phụ là Thúc Đới rời nhà Chu tới nước Tấn và trở thành người đánh xe của Tấn Văn Vương.
Từ Thúc Đới trở về sau, con cháu họ Triệu đều là quan lại nhà Tấn và luôn được xếp vào loại danh gia vọng tộc ở quốc gia này.
Tới những năm đầu thời chiến quốc, thế lực của quý tộc nước Tấn bị suy yếu, các quan đại phu trong triều đình bắt đầu nắm chính quyền.
Cháu đời thứ 12 của Thúc Đới là Triệu Tương trở thành một trong những đại thần quyền lực nhất lúc bấy giờ. Triệu Tương liên hợp với hai họ khác là họ Ngụy và họ Hàn cùng nhau phân chia nước Tấn, thành lập ba nước là Triệu, Ngụy, Hàn.
Việc thành lập nước Triệu lúc bấy giờ được coi là hành động bất trung với thiên tử nhà Chu, cũng bất trung với vương thất nhà Tấn. Tuy nhiên, Triệu Nhương biết vậy vẫn làm.
Tới cháu của Triệu Nhương là Triệu Tịch thì nước Triệu chính thức được Chu Liệt Vương công nhận, cùng với Hàn, Ngụy, họ Triệu được liệt vào hàng chư hầu.
Năm 222 trước Công nguyên, nước Triệu là một trong 6 nước chư hầu bị nước Tần tiêu diệt. Vương thất, quý tộc cho tới dân thường nước Triệu đều lấy tên nước làm họ, xưng là họ Triệu, tản mác khắp nơi trong cả nước.
Trong số này, có ba phân chi lớn của họ Triệu là tại Thiên Thủy, Hàm Đan, Trác Quận, trong đó phân chi ở Trác Quận (còn gọi là họ Triệu ở Hà Gian) được coi là phân chi kế thừa long mạch của họ Triệu.
Tuy nhiên, họ phải đợi tới mãi thời Ngũ Đại mới xuất hiện “chân long thiên tử” của dòng họ mình. Người đó đương nhiên chính là ông vua sáng lập nhà Tống – Triệu Khuông Dận.
Trác Quận màu mỡ
Trác Quận là một kinh đô lâu đời trong lịch sử Trung Quốc. Trác Quận bắt đầu xuất hiện từ thời Hán Cao Tổ Lưu Bang. Trác Quận nổi tiếng nhờ Trác Thủy.
Trong con mắt của nhiều nhà phong thủy, Trác Quận được coi là một nơi “đất quý” còn trong mắt các nhà địa lý, Trác Quận là một mảnh đất rất màu mỡ.
Trên thực tế, bản thân Trác Quận vốn không có hệ thống sông phát triển như vậy. Tuy nhiên, việc nhà Tùy cho đào Đại Vận Hà đã khiến nơi đây trở thành điểm tàng phong tụ khí.
Vào năm 605 sau Công nguyên, tức năm Đại Nghiệp thứ nhất, ngay trong năm đầu tiên lên ngôi Tùy Dạng Đế đã ra lệnh cho hơn 7 triệu binh lính và phu dịch đào một con sông thông tới Trác Quận, cùng năm đó, Tùy Dạng Đế lại cho cải tạo Hàn Câu. Cho tới năm 610, việc đào Đại Vận Hà mới được thực hiện xong.
Tùy Dạng Đế nổi tiếng là ông vua tàn bạo và dâm loạn trong lịch sử Trung Quốc, tuy nhiên, trong suốt thời gian trị vì của mình, Tùy Dạng Đế đã đào kênh Vĩnh Tế, kênh Thông Tế, Hàn Câu, sông Giang Nam, giúp nối liền Hoàng Hà với Trác Quận, Biện Thủy với Hoài Hà, Hoài Hà với sông Trường Giang, Kinh Khẩu với Từ Châu giúp việc giao thông đường thủy từ bắc đến nam được lưu thông. Hệ thống này được gọi sử sách gọi là Đại Vận Hà.
Đại Vận Hà bắt đầu từ Trác Quận ở phía bắc kéo dài đến Từ Châu ở phía nam, tổng cộng kéo dài hơn 5.000 dặm.
Ngoài tác dụng là đường giao thông huyết mạch từ bắc tới nam, Tùy Dạng Đế còn sai người tu sửa đường xá ở hai bên bờ sông, trông các hàng dương liễu để tiện cho mình từ Trường An tới Giang Đô du ngoạn.
Ngoài ra, Tùy Dạng Đế còn cho xây dựng ở dọc sông rất nhiều kho chưa lương thực làm nơi trung chuyển hoặc tích trữ lương thực cho các địa phương và triều đình.
Như vậy, Trác Quận trở thành điểm cuối cùng của Đại Vận Hà, trở thành nơi tụ hội của những tài sản và tinh hoa của cả thiên hạ.
Hơn nữa, hệ thống Đại Vận Hà này cũng nối liền với hai con sống lớn nhất trên lãnh thổ Trung Quốc là Hoàng Hà và Trường Giang, nối liền ba long mạch lớn vắt ngang trung nguyên.
Chính vì thế Trác Quận bắt đầu lộ ra long mạch. Việc phán đoán phong thủy một vùng đất là tốt hay xấu, việc xem xét hệ thống sông nước của vùng đó là rất quan trọng.
Theo quan niệm thông thường thì nguồn nước sâu và dài thì long khí vượng, nguồn nước nông và ngắn thì sẽ không thể nuôi được phúc khí rồng.
Thêm vào đó, sự thay đổi của sông ngòi cũng có thể ảnh hưởng tới bố cục phong thủy của một vùng đất. Trác Quận hiển lộ long mạch cũng là vì hệ thống sông ngòi nơi đây bị Tùy Dạng Đế thay đổi do việc đào Đại Vận Hà.
Từ thời Tây Hán Thủy tổ của dòng Triệu ở Trác Quận là quan Kinh Triệu Doãn Triệu Quảng Hán đã sống ở vùng này.
images693057 Trieu Khuong Dan Phunutoday.vn Phong thủy vương triều Tống và những huyền thoại
Triệu Khương Dân
Triệu Quảng Hán là một danh thần thời Tây Hán. Sách “Hán Thư” có chép về Triệu Quảng Hán như sau: “Quảng Hán là người mạnh mẽ, trời sinh đã là người hiếu thuận và tài năng”.
Vì thế, Triệu Quảng Hán địa vị giống như tể tướng triều Hán. Những con cháu của họ Triệu sau này cũng chẳng phải hạng xoàng xĩnh. Cháu của Triệu Quảng Hán là Triệu Cống vẫn tiếp tục làm một chức quan to trong triều Hán.
Địa vị của họ Triệu còn kéo dài cho tới tận thời nhà Tấn. Dưới triều Tấn, con cháu của họ Triệu là Triệu Chí dù không làm quan nhưng vẫn là một kẻ sĩ được người đương thời rất mực tôn kính.
Tới thời nhà Tùy, hai cha con Triệu Thế Mô và Triệu Nguyên Thúc, hết lòng phò tá triều đình, trở thành hai công thần nổi tiếng của nhà Tùy.
Họ Triệu ở thời Đường càng nhiều nhân tài hơn, hầu hết đều làm quan rất to trong triều. Việc họ Triệu trở thành dòng họ rất thành danh dưới triều Đường có liên quan rất chặt chẽ tới việc thay đổi phong thủy ở Trác Quận.
Cho tới thời Triệu Hoằng Ân, cha của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận, long khí của họ Triệu mới bắt đầu lộ ra. Theo sách “Lương Thư” chép thì khi Triệu Hoằng Ân sinh ra đã xảy ra rất nhiều chuyện kỳ dị. Hôm đó, sóng của sông Hoàng Hà đột nhiên cuộn lên rất cao.
Từ dưới đáy sông, sóng cuộn lên một chiếc bia bằng đồng, bên trên khắc ba hàng chữ: “Hữu nhất chân nhân tại Ký Châu, Bế khâu trương cung tả hữu biên, tử tử tôn tôn vạn vạn niên!” (nghĩa là ở Ký Châu sẽ xuất hiện một người có tên là Hoằng, con cháu của người đó sẽ đời đời kiếp lên ngôi hoàng đế).
Điều này vừa trùng khớp với cha con Triệu Khuông Dận. Trong tên của Triệu Hoằng Ân có một chữ Hoằng, con trai của ông ta là Triệu Khuông Dận cũng lên ngôi hoàng đế, trị vì thiên hạ.
Lạc Dương sinh rồng
Triệu Hoằng Ân ngay từ nhỏ đã tỏ ra kiêu dũng dị thường, có tài cưỡi ngựa bắn tên. Lúc bấy giờ, các triều đại thời Ngũ Đại chiến tranh liên miên, Triệu Hoằng Nhẫn lập rất nhiều công trạng lớn trong cuộc chiến giữa nhà Hậu Đường và Hậu Lương, vì vậy rất được vua Đường Trang Tông Lý Tồn Húc tin dùng, bổ nhiệm làm thủ lĩnh cấm quân của triều Hậu Đường.
Hậu Đường xây dựng kinh đô ở Lạc Dương, vì thế, Triệu Hoằng Ân dời nhà từ Trác Quận tới Lạc Dương. Lần di chuyển này đã giúp Triệu Hoằng Ân sinh ra một “chân long”. Đó chính là ông vua khai quốc triều Bắc Tống Triệu Khuông Dận.
Địa thế phong thủy của Lạc Dương đương nhiên không phải nhắc tới. Bởi lẽ nơi đây từ xưa đã được chọn làm kinh đô của rất nhiều triều đại. Từ khu vực trung tâm của Lạc Dương, phía bắc Mang Sơn làm bình phong, phía nam có ngọn Y Khuyết sừng sững, phía Tây là Tần Lĩnh, phía đông là Sùng Nhạc.
Bốn phía có những cửa ải tự nhiên sừng sững che chở, phía đông có Hổ Lao Quan, phía tây có Hàm Cốc Quan, phía nam có Hoàn Viên Quan, phía bắc có Mạnh Luật Cổ Độ (còn gọi là Mạnh Luật Quan).
Với địa thế đó, Lạc Dương là nơi có địa thế vô cùng quan trọng, là nơi mà các nhà quân sự luôn tìm cách chiếm cho bằng được.
Do địa thế có núi non hiểm trở bao bọc, Lạc Dương là vùng đất dễ thủ nhưng khó tấn công.
Trong đó, núi Long Môn nằm cách Lạc Dương khoảng 25 dặm về phía nam, song song với Hương Sơn, ở giữa hai ngọn núi này là sông Y Thủy.
Truyền thuyết trong dân gian lưu truyền rằng, hai ngọn núi này ban đầu vốn chỉ là một, chắn ngang ở giữa làm ngăn trở dòng chảy của sông Y Thủy, gây ra ngập lụt cho dân làng.
Khi Vua Vũ trị thủy đã bổ đôi ngọn núi này ra để cho sông Y Thủy chảy qua ở giữa, vì thế ngọn núi này mới phân thành hai ngọn một phía đông một phía tây như ngày nay.
Vì mọi người đều so sánh Vua Vũ với rồng, vì thế ngọn núi này mới được gọi là Long Môn Sơn.
Từ thời cổ đại, nơi đây đã trở thành cửa ngõ phía nam của Lạc Dương, còn gọi là Y Khuyết. Nằm đối diện với ngọn Long Môn ở phía đông chính là ngọn Hương Sơn. Vì ở trong núi này có loại sắn có mùi rất thơm, vì vậy, người dân nơi đây mới gọi núi này là Hương Sơn.
Ngọn núi này có cảnh sắc rất đẹp, ngọn núi cao nhọn, cây cối rậm rạp, xanh biếc, rất hấp dẫn người ta tìm tới để tham quan hoặc ở.
Nhà thơ nổi tiếng đời Đường là Bạch Cư Dị những năm cuối đời đều sống ở đây, vì vậy mới có hiệu là Hương Sơn Cư Sĩ. Sau khi Bạch Cư Dị chết, được chôn cất ở ngọn Tỳ Bà của núi Hương Sơn.
Ở phía tây, nằm cách Lạc Dương khoảng 30 dặm là ngọn Chu Sơn, còn gọi là Tần Sơn, phía tây bắt đầu từ Hào Sơn ở Lạc Ninh, đến phía đông thì vào Lạc Dương. Do trên núi này có 3 ngôi mộ cổ vì vậy người ta còn gọi nơi đây là Tam Sơn.
Nếu đứng trên đỉnh của Chu Sơn, phía bắc có thể nhìn thấy Mang Sơn, phía nam có thể nhìn thấy sông Lạc Thủy, khung cảnh rất tráng lệ. Ngoài ra, ở Lạc Dương còn một ngọn núi rất nổi tiếng khác, là nơi Bá Di và Thúc Tề, hai đại thần nhà Thương đã chết đói tại đây.
Ngọn núi này nằm ở khu vực phía đông của Lạc Dương, là một bộ phận của Mang Sơn. Do đỉnh núi rất cao, mặt trời xuất hiện ở đây đầu tiên nên còn gọi là Dương Sơn.
Những ngọn núi bao quanh khiến Lạc Dương xuất hiện khí tượng của long mạch. Tuy nhiên, hệ thống sông ngòi của Lạc Dương cũng xuất sắc không kém.
Sông Hoàng Hà cuồn cuộn chảy qua Tân An, Mạnh Tân, rồi chảy về phía đông. Về hướng Tây Nam của Lạc Dương có hai nhánh của sông Hoàng Hà là sông Lạc Hà và Y Hà.
Sông Lạc Hà, còn gọi là Lạc Thủy, cũng chính vì con sông này nên vùng đất này mới có tên là Lạc Dương.
Lạc Hà là một nhánh lớn của Hoàng Hà ở vùng trung du, bắt nguồn từ Thiểm Tây, chảy qua Lạc Nam của Thiêm Tây, Lư Thị, Lạc Ninh, Nghi Dương, Lạc Dương, Yển Sư, Củng Nghĩa của Hà Nam rồi mới đổ và Hoàng Hà.
Sau khi Tùy Dạng Đế cho đào Đại Vận Hà, nơi đây trở thành trung tâm của Đại Vận Hà, nghĩa là đầu mối của cả nước.
Y Hà, bắt nguồn từ Hùng Nhĩ Sơn thuộc núi Nga Mi, chảy qua huyện Sùng, Y xuyên, Lạc Dương rồi gặp Lạc Hà ở Yển Sư. Phần thượng du Y Hà có nhiều khe hẹp, nước chảy gấp, lượng nước phong phú.
Lưu vực của hai dòng sông Y Hà và Lạc Hà là mảnh đất trọng yếu để các triều đại cổ xưa chọn làm kinh đô, có thể coi nó như chiếc nôi của nền văn minh Trung Quốc.
Sử gia Tư Mã Thiên nói: “Xưa nơi ở của Tam Hoang (3 ông vua đầu tiên của Trung Quốc) đều ở vùng Hà Lạc này cả”. Trong lịch sử 5 ngàn năm của Trung Quốc, có đến một phần ba các vương triều đều lấy vùng này làm trung tâm.
Thời Tây Hán, ban đầu Lưu Bang dự định định đô ở Lạc Dương. Tuy nhiên, sau đó Lưu Bang đã nghe lời Trương Lương mới dời đô về Trường An.
Sau khi Bắc ngụy thống nhất phương bắc, việc đầu tiên Hiếu Văn Đế làm đó chính là dời đô về Lạc Dương. Thời kỳ 16 nước thời Đông Tấn, thiên hạ đại loạn, các khu vực hành chính không được ghi chép một cách cẩn thận.
Tuy nhiên, có thể khẳng định chắc chắn rằng, vùng Lạc Hà vẫn là trung tâm của Hà Nam Quận.
Sau khi triều Tùy thống nhất thiên hạ, đã lấy Đông Đô Lạc Dương làm trung tâm của cả nước. Tới thời nhà Đường, sau khi Đường Thái Tông lên ngôi không lâu đã ra lệnh cho tu sửa Lạc Dương. Ngoài ra, Võ Tắc Thiên cũng rất thích Lạc Dương.
Trong thời kỳ Đường Cao Tông còn tại vị, Võ Tắc Thiên thường khuyên Cao Tông dời đô về Lạc Dương. Sau khi tự mình lên ngôi hoàng đế, nắm chính quyền, Võ Tắc Thiên càng dành nhiều thời gian sống ở Lạc Dương hơn đồng thời đổi tên Đông Đô của Lạc Dương thành Thần Đô, gọi sông Lạc Hà là Thánh Hà (sông thánh).
Tới thời Đường Huyền Tông, trước sau ông vua đa tình nổi tiếng này sống ở Lạc Dương khoảng 10 năm, mở đầu cho thời thịnh trị Khai Nguyên nổi tiếng của triều Đường.
Một học giả thời Thanh sau khi đi khảo sát sông núi Lạc Dương đã nói rằng, Lạc Dương ở phía Nam có núi Chẩm Sùng, Y Khuyết, ở phía bắc có Mang Sơn, Hoàng Hà, phía đông có Hổ Lao Quan, phía tây có Hàm Cốc Quan, có núi sông bao bọc như vậy quả là số một thiên hạ, có thể nói là nơi kinh đô của bậc đế vương.
Chính nhờ có long khí ở Lạc Dương bồi tụ, Triệu Khuông Dận mới có thể rất nhanh trở thành một “chân long xuất thế”, khai sáng nên vương triều nhà Tống.
Nguồn: Phong Thuy – Thế Giới Phong Thuy

Ngọn núi thánh gia tộc ở Thành Cát Tư Hãn

Thủ lĩnh của đội quân ấy là , ông vua khai quốc của triều đại nhà Nguyên, đồng thời cũng là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ rộng lớn trải dài từ châu Á sang châu Âu. Vậy điều gì đã khiến một thủ lĩnh bộ lạc ở vùng thảo nguyên xa xôi trở thành vị hoàng đế của cả một đế chế?
Hồ Bối Gia Nhĩ sinh thành vương khí
Thành Cát Tư Hãn sinh ra tại bộ lạc Khất Nhan, một bộ tộc Mông Cổ sinh sống ở phía Tây Bắc của Trung Quốc, nay là khu vực Hồ Bối Gia Nhĩ. Hiện tại hồ Bối Gia Nhĩ thuộc lãnh thổ của Nga, tuy nhiên, thời cổ đại, nó do một số dân tộc ở phía Bắc của Trung Quốc khống chế.
Từ thời Hán, qua thời Tam Quốc, Tấn, Ngũ hồ Thập lục quốc, Bắc triều cho tới Đường, Tống, hồ Bối Gia Nhĩ là khu vực sinh sống của người Tiên Ti, Ô Hoàn, Hồi Hồi và Khiết Đan,…
images701575 Thanh Cat Tu Han Phunutoday.vn Ngọn núi thánh gia tộc Thành Cát Tư Hãn và câu chuyện phong thủy
Thành Cát Tư Hãn
Tới khi tộc Mông Cổ phát triển mạnh mẽ, hồ Bối Gia Nhĩ trở thành Long Hưng thủy thành của người Mông Cổ.
Sở dĩ gọi là thủy thành bởi vì nó là thành trì được xây dựng trên hình thế của các nguồn nước như sông, hồ hoặc biển. Tác dụng chính của thủy thành chính là tạo nên ranh giới của nước.
Quan niệm phong thủy cho rằng, nếu như nước có ranh giới thì long khí sẽ không bị phân tán, ngược lại, sẽ là nơi sinh khí tích tụ, tất sẽ trở thành một nơi đất lành về phong thủy.
Nếu như là nước biển thì lấy chỗ nước triều dâng cao nhất chính là nơi đại cát (tốt nhất). Còn nếu như là nước sông thì lấy việc uốn khúc quanh co của dòng chảy là nơi đại cát.
Nếu như là nước suối thì lấy chỗ dòng chảy khoan thai, chậm rãi làm nơi đại cát.
Nếu là hồ thì lấy nơi mặt nước tĩnh lặng, mặt hồ giống như một tấm gương lớn là nơi đại cát. Tất nhiên ở đây chỉ mới nói tới cái thế của nước, ngoài ra nó còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người.
Các hồ nước ở hồ Bối Gia Nhĩ rất rộng lớn, vì vậy, xét về thế của nguồn nước thì có thể khẳng định nơi đây là 1 mảnh đất cực tốt về mặt phong thủy mà khó nơi nào có thể tìm thấy được.
Hơn nữa, những hồ nước ở hồ Bối Gia Nhĩ cũng là những hồ nước sâu nhất từng được phát hiện từ trước tới nay, sâu tới mức không thể nhìn thấy đáy.
Chính “thủy thành” này đã đem lại sự may mắn đặc biệt cho tộc người Mông Cổ. Ngoài ra, hồ Bối Gia Nhĩ không chỉ là 1 tòa “thủy thành” rộng lớn mà còn tĩnh lặng như đại dương rộng lớn của tự nhiên.
Bối Gia Nhĩ, trong tiếng của người Mông Cổ có nghĩa là “đại dương của tự nhiên”.
Nước của hồ Bối Gia Nhĩ nổi tiếng là rất trong và không bao giờ bị đục. Người đứng trên bờ có thể nhìn thấy cá bơi ở dưới lòng hồ.
Thời bấy giờ, những người dân sống quanh vùng hồ này đều cho rằng, chỉ cầy dùng cánh tay là có thể chạm được xuống đáy hồ. Tộc người Mông Cổ thường chăn nuôi gia súc ở ven hồ.
Vào những ngày lễ tết hoặc những ngày có đám cưới, người ta thường bày tiệc ngay bên bờ hồ, dùng nước hồ để uống, rửa mặt và thậm chí cả tắm nữa.
Hải Đô, tổ tiên của Thiết Mộc Chân đã xây dựng trung tâm đầu tiên của Mông Cổ tại đây. Lúc bấy giờ, trong mắt người Trung Nguyên, Mông Cổ chỉ là 1 bộ tộc dã man ở vùng hoang mạc phía Bắc và không có gì đáng sợ.
Tuy nhiên, các nhà phong thủy cho rằng, sự hưng- suy, phúc- họa của con người đều có liên quan tới vị trí địa lý. Hồ Bối Gia Nhĩ với địa thế của nó đã tạo nên một vùng đất có phong thủy cực tốt, tất yếu sẽ sản sinh “chân long thiên tử”.
Tuy nhiên, có rất nhiều bộ tộc Mông Cổ khác nhau sinh sống trên vùng thảo nguyên Âu – Á rộng lớn này. Mối liên hệ khác nhau giữa các bộ tộc với long mạch đã tiên định một cuộc tranh chấp hơn thua sống chết giữa họ để chọn ra người xứng đáng nhất.
Sự thực đã diễn ra đúng như vậy. Khi Hải Đô còn nhỏ, bà nội của ông ta là Na Mạc Luân, tức tổ tiên đời thứ 7 của Thành Cát Tư Hãn đã trở thành thủ lĩnh của bộ lạc. Tuy nhiên, sau đó, Na Mạc Luân đã bị giết trong 1 cuộc chiến tranh. Hải Đô may mắn thoát khỏi tai kiếp đó.
Sau khi lớn lên, việc đầu tiên mà Hải Đô làm chính là tiêu diệt những kẻ đã giết hại mẹ mình – người Trát Lạt Nhi Tới thời đại của Hải Đô, gia tộc của Thiết Mộc Chân bước vào thời kỳ của những cuộc chiến tranh chinh phục trên khắp thảo nguyên.
Dựa vào sự dũng mãnh, quyết liệt và trí tuệ, Hải Đô đã tiêu diệt và thu phục tất cả những bộ lạc khác và cuối cùng thành lập vương triều Mông Cổ đầu tiên ở hồ Bối Gia Nhĩ.
Thời gian qua đi, hồ Bối Gia Nhĩ không những không bị khô cạn, ngược lại nguồn nước ngày càng trở nên dồi dào. Điều này đã dự báo trước rằng, trên thảo nguyên Mông Cổ chắc chắn sẽ xuất hiện một lực lượng cực kỳ lớn mạnh, hấp thụ tất cả các long mạch thành một thể thống nhất.
Sự bảo hộ của núi Thánh
Hồ Bối Gia Nhĩ đã nuôi dưỡng khí vương giả của gia tộc Thiết Mộc Chân, tuy nhiên, nó không thể bảo vệ gia tộc Thiết Mộc Chân đến vạn đời. Khi thời đại của Hải Đô đã trở thành quá khứ, gia tộc của Thiết Mộc Chân buộc phải tìm tới một nơi định cư khác, và họ đã tới núi Bất Nhi Hãn.
Khi linh khí của Bối Gia Nhĩ hợp nhất với sự hùng tráng của núi Bất Nhi Hãn thì cũng là thời điểm “chân long” xuất thế đã gần kề. Nếu như Bối Gia Nhĩ giúp gia tộc Thiết Mộc Chân hình thành vương khí thì chính núi Bất Nhi Hãn đảm trách việc bảo hộ vương khí này.
Đã rất nhiều lần Bất Nhĩ Hãn cứu gia tộc Thiết Mộc Chân thoát khỏi hiểm nguy, chờ tới ngày “chân mệnh thiên tử” chào đời.
Theo sách “Mật sử Mông Cổ” ghi chép thì khi tổ tiên của Thiết Mộc Chân di cư tới khu vực núi Bất Nhi Hãn thì phát hiện ra rằng, ngọn núi này cao hơn bất cứ ngọn núi nào khác trong vùng.
Họ cho rằng đây là ngọn núi cao nhất thế giới, không có ngọn núi nào cao hơn do vậy mới gọi nó là Hãn Sơn (hãn nghĩa là ít có, hiếm có).
Bất Nhi Hãn Sơn tức là ngọn núi Đại Khẳng Đắc ở Mông Cổ ngày nay. Khu vực Đại Khẳng Đắc là nơi sinh thành của rất nhiều con sông ở Trung Á.
Ngoại trừ sông Onon, sông Kherlen và sông Tuul đều bắt nguồn từ khu vực này. Chính vì vậy, nơi đây còn có tên gọi là “nơi đầu nguồn của 3 con sông”.
Đây là khu vực cây cối xanh tươi, đất đai màu mỡ, tạo nên những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Mông Cổ.
Thời cổ đại, bất Nhi Hãn Sơn được gọi là Lang Cư Tư Sơn, là nơi cư ngụ chính của Lang Tộc. Địa thế của ngọn núi này rất hùng tráng, khí thế bất phàm, lưng dựa vào nhiều dãy núi, phía trước lại rộng rãi, có sông chảy qua, Bạch Hổ, Thanh Long bao quanh huyện chính ở 2 bên phải trái.
images701576 Han Son Phunutoday.vn Ngọn núi thánh gia tộc Thành Cát Tư Hãn và câu chuyện phong thủy
Hãn Sơn
Theo miêu tả của sách Sơn Kinh về hướng của long mạch thì đây chính là nơi giao nhau của phần đuôi Đoái Long ở phía Bắc Hoa Hạ và Chấn Long ở phía Đông Hoa Hạ. Vì thế, đây là nơi hội tụ được đặc tính của cả 2 long mạch này.
Nếu như một ngày nào đó “chân long” xuất hiện, thì chắc chắn người đó sẽ làm nên sự nghiệp “kinh thiên động địa”. Bất Nhi Hãn Sơn là nơi chôn cất của cha ruột Thành Cát Tư Hãn. Theo quan niệm phong thủy truyền thống, tổ tiên được chôn đúng long huyệt thì đời sau nhất định sẽ xuất hiện thiên tử.
Vì thế, việc Thành Cát Tư Hãn trở thành ông vua khai quốc triều Nguyên, hoàng đế của Đế chế Mông Cổ chắc chắn có liên quan tới việc chôn cất cha mình.
Sách “Sơn Kinh” còn nói rằng, mỗi 1 dãy núi nơi đây đều nơi người ta phải tranh chấp. Mỗi dãy núi dường như kéo dài bất tận, kéo dài tới tận vùng sa mạc ở phía Bắc, khí thế rất mạnh mẽ.
Quả thực, trong suốt cuộc đời của Thành Cát Tư Hãn, ông đã tham gia rất nhiều cuộc chiến và không ít lần được chính ngọn núi này bảo vệ, thoát khỏi những cơn nguy hiểm.
Đó có lẽ là lý do mà cho đến tận cuối đời, Thành Cát Tư Hãn vẫn rất thích ngọn núi này. Mỗi khi có sự việc lớn, Thành Cát Tư Hãn đều vào núi này làm lễ để nhờ núi Thánh chỉ cho mình cách giải quyết vấn đề tốt nhất.
Khi Thiết Mộc Chân – Thành Cát Tư Hãn còn nhỏ, cha ông ta là Dã Tốc Cai bị người Tháp Tháp Nhi hại chết. Từ đó, gia tộc Thiết Mộc Chân bước vào thời kỳ suy sụp, thường xuyên bị các bộ lạc khác ức hiếp.
Thậm chí khi họ Thái Diệc Xích Ngột Thích chuẩn bị di cư tới một vùng đất màu mỡ hơn, đã có ý định bỏ lại gia đình góa phụ Ha Ngạch Luân.
Mẹ của Thiết Mộc Chân – Ha Ngạch Luân chỉ đành đem theo các con, sống nhờ vào cây dại, quả núi, trải qua những ngày tháng gian khổ nhất. Vào thời điểm đó, mặc dù tuổi vẫn còn nhỏ nhưng Thiết Mộc Chân đã tỏ ra là một kẻ khí khái hơn người.
Vì vậy, họ Thái Diệc Xích Ngột Thích muốn diệt cỏ tận gốc, tiêu diệt Thiết Mộc Chân để tránh hậu hoạn sau này. Trong tình thế nguy kịch ấy, Thiết Mộc Chân đã chạy vào trong núi Bất Nhi Hãn để lẩn trốn.
Mặc dù Thiết Mộc Chân không thể chạy ra khỏi núi Bất Nhi Hãn và cuối cùng đã bị người Thái Diệc Xích Ngột Thích bắt giữ, tuy nhiên, lần lẩn trốn đó đã giúp Thiết Mộc Chân quen thuộc với ngọn Bất Nhi Hãn. Điều này giúp ích rất nhiều cho cuộc đời Thiết Mộc Chân sau này.
Sau khi bị bắt, Thiết Mộc Chân lại tìm cơ hội trốn thoát, tiếp tục cuộc sống khốn cùng, nay đây mai đó để tránh sự truy sát. Cho tới khi Thiết Mộc Chân lớn lên, trở thành 1 người sức khỏe hơn người, dũng cảm và bạo liệt.
Người Thái Diệc Xích Ngột Thích tuy không thể giết được Thiết Mộc Chân, tuy nhiên vẫn để ý và thù ghét nhà Thiết Mộc Chân. Một lần, người Thái Diệc Xích Ngột mang quân tới nơi ở của nhà Thiết Mộc Chân để cướp bóc.
Nhờ được người nhà báo tin, người nhà Thiết Mộc Chân đã nhanh chóng trốn vào núi Bất Nhi Hãn Sơn.
Nhờ có kinh nghiệm của lần trốn trước, lần này, gia đình Thiết Mộc Chân trốn ở núi này rất lâu. Người Thái Xích Ngột tìm rất lâu vẫn không tìm ra được nơi lẩn trốn của họ.
Từ đó về sau, Thiết Mộc Chân rất thích thú đối với ngọn Bất Nhi Hãn Sơn vì cho rằng ngọn núi này không chỉ cứu mình mà còn cứu cả gia đình mình.
Thiết Mộc Chân gọi Bất Nhi Hãn Sơn là “Thánh Sơn” (ngọn núi Thánh), mỗi năm đều đến đây lễ tế và quy định con cháu đời sau đều phải tuân theo tục lệ này.
Nổi dậy ở thảo nguyên
Sau khi Thiết Mộc Chân lớn lên đã tích cực tìm kiếm các đồng minh, và cuối cùng đã tìm được nhạc phụ là Đức Tiết Thiền. Đức Tiết Thiền và cha của Thiết Mộc Chân từng là chiến hữu. Cha của Đức Tiết Thiền từng nhiều lần được Dã Tốc Cai giúp đỡ.
Vì thế, 2 người từng hẹn với nhau rằng, con gái của Đức Tiết Thiền là Bột Nhi Thiếp sẽ được gả cho Thiết Mộc Chân làm vợ.
Sau này, khi Dã Tốc Cai mất đi, gia đình Thiết Mộc Chân trở nên sa sút, song Đức Tiết Thiền vẫn không hề quên lời hứa trước đây, ngược lại còn rất vui vẻ thúc đẩy hôn sự giữa Thiết Mộc Chân và con gái mình. Đức Tiết Thiền còn tặng cho mẹ của Thiết Mộc Chân 1 chiếc áo da báo đen làm lễ vật.
Rất nhanh sau đó, chiếc áo đã có tác dụng. Nhờ vào sự dũng mãnh và trí tuệ, Thiết Mộc Chân nhanh chóng xây dựng cho mình 1 lực lượng nhỏ trên vùng thảo nguyên.
Để nhanh chóng phát triển lực lượng của mình, Thiết Mộc Chân đã đem chiếc áo da báo này tặng cho Thoát Oát Lân Lặc. Thoát Oát Lân Lặc cũng từng là 1 người bạn cũ của Dã Tốc Cai, nhờ có sự giúp đỡ của Dã Tốc Cai mà giữ được ngôi vương, nên 2 người từng kết nghĩa anh em.
Thiết Mộc Chân tới gặp Thoát Oát Lân Lặc, tặng quà quý hiếm nhưng không hề nhắc tới chuyện nhờ vả.
Thoát Oát Lân Lặc mừng lắm, tự mình bày tỏ ý muốn giúp Thiết Mộc Chân tập hợp những người thuộc bộ tộc cũ của mình đã bị li tán. Sự nghiệp của Thiết Mộc Chân từ đó bước sang một bước ngoặt mới.
Thế lực của Thiết Mộc Chân sau đó phát triển rất nhanh. Năm 1183 sau Công nguyên, Thiết Mộc Chân được các quý tộc tiến cử làm Khả Hãn của bộ Khất Nha Thích của Mông Cổ. Trước khi cuộc bầu Khả Hãn diễn ra, Thiết Mộc Chân đã có sự chuẩn bị rất chu đáo.
Trong hội nghị bầu chọn, Hãn và các quý tộc tuyên thệ lòng trung thành của mình. Trước đó, 1 vị thủ lĩnh của bộ Trát Lạt Nhi từng nói với Thiết Mộc Chân rằng: “Dưới gốc cây này, vị Khả Hãn cuối cùng của Mông Cổ Hốt Đồ Lạt đã ăn mừng lễn lên ngôi của mình.
Thế nhưng, từ sau khi Hốt Đồ Lạt qua đời, người Mông Cổ bị đẩy vào cơn khủng hoảng, từ đó không có Khả Hãn nữa. Tuy nhiên, trời xanh vẫn không quên gia tộc Hốt Đồ Lạt. Người Mông Cổ sẽ sinh ra 1 người anh hùng, 1 người Khả Hãn đáng sợ có thể báo thù cho Hốt Đồ Lạt…”
Vị thủ lĩnh của bộ Trát Lạt Nhi này chính là Mộc Hoa Lê, người sau này trở thành một vị tướng giỏi của Thích Mộc Chân, lập rất nhiều công trạng trong sự nghiệp xây dựng Đế chế Mông Cổ của Thiết Mộc Chân, được coi là người đứng đầu trong “tứ kiệt” (bốn người tướng giỏi nhất của Thành Cát Tư Hãn). Lời nói của Mộc Hoa Lê sau này đã trở thành mục tiêu phấn đấu suốt cả đời của Thiết Mộc Chân.
Sau khi xưng Hãn, liên minh của bộ Khất Nhan ngày càng lớn mạnh. Tuy nhiên, sự lớn mạnh của Thiết Mộc Chân nhanh chóng bị Trát Mộc Hợp của bộ Trát Đáp Lan để ý.
Trát Mộc Hợp và Thiết Mộc Chân từng là anh em kết nghĩa nhưng kể từ khi 2 người xung đột về lợi ích thì tình bạn cũng bắt đầu sứt mẻ. Trát Mộc Hợp đưa người anh em kết nghĩa của mình vào danh sách những kẻ cần phải tiêu diệt.
Một ngày, em trai của Trát Mộc Hợp do đến cướp một bầy ngựa của bộ tộc Thiết Mộc Chân đã bị giết.
Trát Mộc Hợp lấy cớ đó, tập hợp hơn 30 ngàn quân của 30 bộ lạc rầm rập kéo tới tấn công bộ tộc của Thiết Mộc Chân. May mắn có 2 người của bộ tộc Xích Khất Liệt Tư ở chỗ Trát Mộc Hợp đã đến báo tin cho Thiết Mộc Chân.
Thiết Mộc Chân sau khi biết tin cũng tập hợp 30 ngàn kỵ binh, phân thành 13 cánh, nghênh chiến với Trát Mộc Hợp ở hồ Hô Luân. Trong cuộc chiến đó Thiết Mộc Chân đã thất bại, rất nhiều người dân của các bộ tộc bị bắt sống.
Tuy nhiên, Thiết Mộc Chân lại được cái gọi là đạo nghĩa. Sau cuộc chiến đó, rất nhiều bộ tộc theo về với Thiết Mộc Chân. Vì thế, dù thất bại nhưng lực lượng của Thiết Mộc Chân lại càng lớn mạnh hơn.
Sau đó, Thiết Mộc Chân nhận được tin Tháp Tháp Nhi thất bại trong cuộc chiến với quân Kim, bèn liên thủ với Thoát Oát Lân Lặc tấn công Tháp Tháp Nhi, giành được thắng lợi lớn.
Triều Kim phong cho Thoát Oát Lân Lặc làm vương, Thiết Mộc Chân cũng được phong làm thống lĩnh bộ lạc.
Những phong hiệu này thực tế chỉ là sự thừa nhận đối với quyền lực và địa vị của họ, tuy nhiên, nhờ có tước phong của nhà Kim mà Thiết Mộc Chân đã củng cố được địa vị của mình.
Sau đó không lâu, Thiết Mộc Chân bắt đầu truy kích bộ tộc Thái Xích Ngột.
Việc Thái Xích Ngột bị diệt vong đã giúp Thiết Mộc Chân vượt qua được một trở ngại rất lớn trên con đường thống nhất Mông Cổ. Thêm vào đó, rất nhiều bộ tướng của Thái Xích Ngột sau đó đều trở thành những dũng tướng tài năng của Thiết Mộc Chân.
Quý tộc các bộ lạc trên thảo nguyên sợ Thiết Mộc Chân sẽ nổi dậy vì vậy, Trát Mộc Hợp đã tập hợp những kẻ thù của Thiết Mộc Chân tạo thành một liên minh quân sự bầu một người thống lĩnh gọi là Cổ Nhi Hãn nhằm chống lại Thiết Mộc Chân.
Liên quân của 12 bộ đã tấn công Thiết Mộc Chân và bộ Khắc Liệt nhằm tiêu diệt thế lực của Thiết Mộc Chân. Tuy nhiên, Thiết Mộc Chân sau khi phân tích tình hình, bèn cho người xây 3 trạm gác ngay ở trận tiền đồng thời phái 3 cánh quân tổ hợp thành quân tiên phong, tấn công quân địch.
Quân địch vừa mới tấn công đã thất bại. Thiết Mộc Chân và Vương Hãn Thoát Oát Lân Lặc chia quân tấn công, chưa đầy 1 ngày, đội quân ô hợp của Trát Mộc Hợp đã bị tiêu diệt sạch.
Mùa Thu năm 1202, Thiết Mộc Chân lại đem quân tấn công bộ Tháp Tháp Nhi. Rất nhanh sau đó, Tháp Tháp nhi bị tiêu diệt, tuy nhiên, lực lượng của Thiết Mộc Chân cũng bị tiêu hao không ít.
Lúc này, trên thảo nguyên Mông Cổ hình thành thế “chia 3 thiên hạ” với 3 thế lực lớn gồm Thiết Mộc Chân, Thoát Oát Lân Lặc và Nãi Man.
Vì mục tiêu trở thành người thống lĩnh thảo nguyên, mối quan hệ giữa Thoát Oát Lân Lặc và Thiết Mộc Chân vốn thân thiết như cha con nay bắt đầu trở nên căng thẳng.
Khi những mâu thuẫn không thể điều hòa được nữa, chiến tranh đã nổ ra. Trong cuộc chiến đầu tiên ở Ha Lan Chân Sa Đà, Thiết Mộc Chân bị đánh bại, cuối cùng chỉ còn mười mấy tướng lĩnh chạy theo.
Tuy nhiên, Thoát Oát Lân Lặc đã bị chiến thắng làm cho mê muội, phát động chiến tranh với quân Kim. Thiết Mộc Chân đã nhân cơ hội đó, tập hợp lực lượng tấn công và tiêu diệt Thoát Oát Lân Lặc.
Sau khi tiêu diệt Thoát Oát Lân Lặc, đối thủ duy nhất còn lại của Thiết Mộc Chân là Nãi Man. Năm 1204, Thiết Mộc Chân tấn công bộ tộc Nãi Man.
Trong cuộc chiến Nạp Hốt Nhai, Thiết Mộc Chân đã tự mình dẫn quân tiên phong tấn công, quân Nãi Man từng bước bị đánh lui rồi tiêu diệt hoàn toàn.
Từ đó, Thiết Mộc Chân trở thành bá chủ của thảo nguyên. Mùa xuân năm 1206, Thiết Mộc Chân tổ chức đại hội Mông Cổ ngay dưới chân ngọn núi thánh Bất Nhi Hãn Sơn.
Trong đại hội đó, Thiết Mộc Chân được tôn làm Đại Hãn của người Mông Cổ, hiệu là Thành Cát Tư Hãn.
Có thể nói, Bất Nhi Hãn Sơn đã chứng kiến từng bước thăng trầm của gia tộc Thiết Mộc Chân và âm thầm bảo hộ cho Thiết Mộc Chân, chờ tới lúc con rồng Thiết Mộc Chân cất cánh, trở thành bá chủ của Đế chế Mông Cổ lừng danh.
Nguồn: Phong Thuy – Thế Giới Phong Thuy